TRƯỜNG THI BÌNH ĐỊNH VÀ SĨ TỬ QUẢNG NGÃI
Từ thời Gia Long (嘉 隆) đến Thiệu Trị (紹 治), sĩ tử các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận được phân phối ứng thí như sau:
Các tỉnh từ đèo Cả trở ra thi ở Trường Thừa Thiên, từ đèo Cả trở vào thi ở Trường Gia Định.
Đến năm Canh Tuất (1850), Tự Đức thứ 3 (嗣 德), mới bắt đầu thành lập Trường thi Bình Định [1] để nhận thí sinh các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.
Về sau, trường Bình Định còn nhận thêm thí sinh của tỉnh Bình Thuận rồi Ninh Thuận. Nếu không kể Trường thi An Giang lập năm 1863, mở một khoa rồi phải xóa tên vì bị Pháp chiếm, thì có thể nói Trường thi Bình Định là trường thứ 7, ra đời muộn nhất, sau cả Trường Thanh Hoá được tái sinh (1848).
I – VÀI NÉT SƠ LƯỢC
Trường thi Bình Định được xây dựng trên vùng đất gò, thuộc thôn Hòa Nghi, tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn; nay là thôn Hòa Nghi, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn. Trường thi nằm phía tây nam thành Bình Định và hữu ngạn Nam phái sông Côn, lại gặp khúc cong nên 3 mặt Tây, Bắc, Đông đều có sông ngăn cách, tiện cho việc canh phòng. Khu vực trường thi là một cái nền rộng, chu vi chừng 1.000 mét, cao gần 2 mét, xây bằng đá ong, mặt nền bằng phẳng và lộ thiên. Đến kỳ mở khoa thi, quan tỉnh mới sai dựng hàng rào dày xung quanh, cất nhà tạm cho quan trường và chia vi cho thí sinh.
Ngày thi, sĩ tử được gọi vào vi đã phân lô, tự cất lều để làm bài suốt một ngày. Tuyệt đối không được qua lại lều người khác trong giờ thi.
Khoa Nhâm Tý (1852), Tự Đức thứ 5, Trường Bình Định mở khoa thi đầu tiên.
Bộ Lễ qui định số người đậu Cử nhân trên toàn quốc mỗi khóa là 124 người, phân định cho các trường như sau: Thừa Thiên lấy đậu 20 người, Nghệ An 18 người, Thanh Hóa 20, Nam Định 20, Hà Nội 20, Bình Định 13 và Gia Định 13.
Bộ Lễ cũng đã xếp Trường Bình Định vào nhóm Trường Thừa Thiên, Nghệ An, Gia Định, tổ chức thi Hương vào tháng bảy âm lịch ở những năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu (định lệ về năm, đôi khi không thực hiện đúng) còn nhóm thứ hai gồm Trường Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nội, thi vào tháng chín những năm trên.
Tính từ khoa Nhâm Tý (1852), Tự Đức thứ 5, đến khoa Mậu Ngọ (1918), Khải Định thứ 3 (啟 定) là năm chấm dứt vĩnh viễn nền Nho học, triều đình nhà Nguyễn đã mở 29 khoa thi Hương. Trường thi Bình Định chỉ tham dự 23 khoa, còn 6 khoa trường này không tổ chức thi bởi các lý do:
– Năm 1859, liên quân Pháp và Tây Ban Nha đánh chiếm thành Gia Định. Rồi năm 1861, các tỉnh Định Tường, Biên Hòa thất thủ. Tiếp đến 1862 triều đình ta phải nhường ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ cho Pháp. Biến cố dồn dập, đất nước có rất nhiều việc khẩn trương phải giải quyết, nên Trường thi Bình Định tạm đóng cửa. Vì vậy, khoa thi năm Tân Dậu (1861), Tự Đức thứ 14, sĩ tử ở Trường Bình Định phải ra Huế thi chung với Trường Thừa Thiên. Còn khoa thi năm Giáp Tý (1864) thì theo lệ cũ, nghĩa là các tỉnh từ Phú Yên tới Quảng Ngãi ra thi ở Trường Thừa Thiên; các tỉnh từ Khánh Hòa đến Bình Thuận vào thi ở Trường An Giang (thay thế cho Gia Định)
– Năm Quý Dậu (1873), Tự Đức thứ 26, đúng hạn kỳ mở khoa thi Hương trên toàn quốc (không kể Nam Kỳ đã bị Pháp chiếm), thì ở Bắc Kỳ lại gặp biến (Hà thành thất thủ lần thứ nhất). Các trường thi Hà Nội và Nam Định không thi được, nên triều đình mở khoa Giáp Tuất (1874) với tính cách là khoa Quý Dậu triển hạn, để sĩ tử hai trường trên ứng thí. Trường Bình Định đã mở khoa Quý Dậu nên không mở khoa này.
– Trường Bình Định còn bị gián đoạn ba khoa nữa. Đó là khoa Bính Tuất (1886), Đồng Khánh nguyên niên (同 慶), Trường Bình Định đã thi xong ở khoa Ất Dậu (1885) nên nay không thi nữa. Đến khoa thi năm Đinh Hợi (1887), Đồng Khánh thứ 2, phong trào Cần Vương ở các tỉnh Miền Nam Trung Kỳ đang lúc sôi động, nên trường Bình Định không mở được khoa thi, và sĩ tử miền này cũng không ra Huế ứng thí. Rồi khoa thi năm Mậu Tý (1888), Đồng Khánh thứ 3, tình hình chưa ổn định, Trường Bình Định vẫn bị đình và chỉ một ít sĩ tử miền này ra Huế thi chung với Trường Thừa Thiên.
II – TRƯỜNG BÌNH ĐỊNH VÀ CÁC KHOA THI HƯƠNG
Căn cứ vào Quốc Triều Hương Khoa Lục của Cao Xuân Dục, Trường thi Bình Định mở được 23 khoa, có 355 sĩ tử đỗ Cử nhân và khoảng 920 Tú tài. Nếu chỉ tính riêng tỉnh Quảng Ngãi có 104 Cử nhân, liệt kê theo thứ tự các khoa thi:
1/ Khoa Nhâm Tý (1852), Tự Đức thứ 5 (嗣 德), lấy đỗ 13 người. Trong đó Bình Định 11, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 2, có Á nguyên. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Phan Văn Điển, đỗ thứ nhì, người thôn An Thổ, huyện Mộ Đức.
– Lê Trung Lượng, đỗ thứ 5, người thôn Phú Nhơn, huyện Bình Sơn. Con là Cử nhân Lê Trung Đình đỗ khoa Giáp Thân (1884).
2/ Khoa Ất Mão (1855), Tự Đức thứ 8, lấy đỗ 13 người: Bình Định 4, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 7, có Á nguyên; Phú Yên 2. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Kiều Tòng (cải danh Kiều Lâm), đỗ thứ nhì, người thôn An Đại, huyện Chương Nghĩa. Đến khoa Nhâm Tuất (1862) lấy bằng Tiến sĩ.
– Nguyễn Hữu Tạo, đỗ thứ 3, người thôn An Đại, huyện Mộ Đức.
– Trần Đăng Tự, đỗ thứ 5, người thôn Chánh Mông (sau đổi Chánh Lộ), huyện Chương Nghĩa.
– Võ Văn Tịnh (cải danh Võ Văn Thanh), đỗ thứ 10, người thôn Ba La, huyện Chương Nghĩa, là con của Cử nhân Võ Trọng Liên.
– Đỗ Trứ, đỗ thứ 11, người thôn Vạn Thiện, huyện Bình Sơn.
– Nguyễn Phạm Khánh, đỗ thứ 12, người thôn Lâm Lộc, huyện Bình Sơn.
– Đặng Thừa Tích, đỗ thứ 13, người thôn Chương Thạnh, huyện Chương Nghĩa.
3/ Khoa Mậu Ngọ (1858), Tự Đức thứ 11, lấy đỗ 13 người: Bình Định 7, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 6, có Á nguyên. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Phạm Thúc, đỗ thứ 2, người thôn Trà Bình, huyện Bình Sơn.
– Nguyễn Trọng Biện (cải danh Nguyễn Hiệp), đỗ thứ 3, người thôn Năng An, huyện Mộ Đức.
– Phạm Đăng Dương, đỗ thứ 8, người thôn Tân Hội, huyện Chương Nghĩa.
– Lê Bá Ngọc, đỗ thứ 10, người thôn Chánh Mông, huyện Chương Nghĩa.
– Phan Đình Ngạn, đỗ thứ 11, người thôn Chánh Mông, huyện Chương Nghĩa.
– Đặng Văn Giai, đỗ thứ 12, người thôn La Ba, huyện Chương Nghĩa.
4 – Khoa Đinh Mão (1867), Tự Đức thứ 20, lấy đỗ 18 người: Bình Định 14, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Quảng Ngãi 4. Kể từ khoa này, Trường Bình Định nhận thí sinh của Bình Thuận. Và sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa Đinh Mão có:
– Trần Văn Lý, đỗ thứ 9, người thôn Trung Lý, huyện Mộ Đức.
– Trần Giảng, đỗ thứ 14, người thôn Chánh Lộ, huyện Chương Nghĩa.
– Lê Văn Quang, đỗ thứ 15, người thôn Phi Chiểu, huyện Mộ Đức.
– Huỳnh Quang Quang, đỗ thứ 18, người thôn Lỗ Bôi, huyện Mộ Đức.
5/ Khoa Mậu Thìn (1868), Tự Đức thứ 21, lấy đỗ 15 người: Bình Định 8; Quảng Ngãi 7, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Nguyễn Luật, đỗ thứ 1, người thôn Mỹ Khê, huyện Bình Sơn.
– Nguyễn Duy Cung, đỗ thứ 2, người thôn Vạn Tượng, huyện Chương Nghĩa.
– Nguyễn Tấn Phĩ, đỗ thứ 4. Ông là em của Nguyễn Duy Cung.
– Lê Trọng Khanh, đỗ thứ 8, người thôn An Chỉ, huyện Chương Nghĩa.
– Trịnh Văn Thái, đỗ thứ 9, người thôn Quất Lâm, huyện Mộ Đức.
– Lê Địch Cát, đỗ thứ 10, người thôn Năng An, huyện Mộ Đức.
– Nguyễn Hữu Mưu (cải danh là Nguyễn Hữu Thảng), đỗ thứ 14, người thôn Chánh Mông, huyện Chương Nghĩa.
6/ Khoa Canh Ngọ (1870), Tự Đức thứ 23, lấy đỗ 16 người: Bình Định 7; Quảng Ngãi 8, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Phú Yên 1. Và sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa Đinh Mão gồm có:
– Trương Đăng Tuyển, đỗ thứ 1, người thôn Phú Nhơn, huyện Bình Sơn.
– Phạm Viết Duy, đỗ thứ 2, người thôn Chánh Mông, huyện Chương Nghĩa.
– Dương Đình Thọ, đỗ thứ 7, người thôn Tuyết Diêm, huyện Bình Sơn.
– Nguyễn Đăng Ngoạn, đỗ thứ 8, người thôn Kim Giao, huyện Mộ Đức.
– Lê Uyển, đỗ thứ 9, người thôn Phú Nhơn, huyện Chương Nghĩa.
– Huỳnh Toản, đỗ thứ 10, người thôn An Lộc, huyện Bình Sơn.
– Nguyễn Văn Tụy, đỗ thứ 14, người thôn Thạch Than, huyện Mộ Đức.
– Trần Văn Thể, đỗ thứ 15, người thôn Năng An, huyện Mộ Đức.
7/ Khoa Quý Dậu (1873), Tự Đức thứ 26, lấy đỗ 15 người: Bình Định 8, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 4; Phú Yên 1; Bình Thuận 2, có Á nguyên. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm có:
– Nguyễn Văn Tấn, đỗ thứ 3, người thôn Thu Sa, huyện Chương Nghĩa.
– Huỳnh Văn Chất, đỗ thứ 8, người thôn Bình An, huyện Mộ Đức.
– Nguyễn Đình Giản, đỗ thứ 10, người thôn Phước Lộc, huyện Bình Sơn.
– Phạm Trọng Di, đỗ thứ 12, người thôn Lâm Lộc, huyện Bình Sơn.
8/ Khoa Bính Tý (1876), Tự Đức thứ 29, lấy đỗ 12 người: Bình Định 7, có Á nguyên; Quảng Ngãi 3, có Giải nguyên; Phú Yên 1; Bình Thuận 1. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Phạm Văn Hành, đỗ thứ 1, người thôn Thuận Phước, huyện Bình Sơn.
– Võ Văn Hành, đỗ thứ 4, người thôn An Tây, huyện Mộ Đức.
– Lê Dưỡng, đỗ thứ 5, người thôn Quất Lâm, huyện Mộ Đức.
9/ Khoa Mậu Dần (1878), Tự Đức thứ 31, lấy đỗ 11 người: Bình Định 6, có Giải nguyên. Quảng Ngãi 5, có Á nguyên. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Phạm Hữu Mô, đỗ thứ 2, người thôn An …[2], huyện Bình Sơn.
– Nguyễn Hữu Thục, đỗ thứ 3, người ty Trù Thất, huyện Mộ Đức.
– Trần Hữu Gia, đỗ thứ 4, người thôn Tất Thủy, huyện Bình Sơn.
– Phan Văn Úy, đỗ thứ 9, người thôn Trung Lý, huyện Mộ Đức.
– Nguyễn Viết Trực, đỗ thứ 11, người thôn Phú Lộc, huyện Bình Sơn.
10/ Khoa Kỷ Mão (1879), Tự Đức thứ 32, lấy đỗ 8 người: Bình Định 5, có Á nguyên; Quảng Ngãi 3, có Giải nguyên. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Bùi Phụ Truyền, đỗ thứ 1, người thôn Thu Phố, huyện Chương Nghĩa.
– Nguyễn Cự, đỗ thứ 7, người thôn An Ba, huyện Mộ Đức.
– Võ Trọng Liên, đỗ thứ 8, người thôn Ba La, huyện Chương nghĩa. Ông là con của Cử nhânVõ Duy Tịnh [3].
11/ Khoa Nhâm Ngọ (1882), Tự Đức thứ 35, lấy đỗ 11 người: Bình Định 6, có Á nguyên; Quảng Ngãi 5, có Giải nguyên. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Trần Cư, đỗ thứ 1, người thôn Châu Nhai, huyện Bình Sơn.
– Nguyễn Mậu Thọ, đỗ thứ 6, người thôn An Ba, huyện Mộ Đức.
– Nguyễn Du, đỗ thứ 7, người thôn Thạch Lập, huyện Mộ Đức.
– Lê Tựu Khiết, đỗ thứ 9, người thôn An Ba, huyện Mộ Đức.
– Bùi Doãn, đỗ thứ 11, người thôn Chiêu Lộc, huyện Bình Sơn.
12/ Khoa Giáp Thân (1884), Kiến Phúc thứ 1 (建 福), lấy đỗ 18 người: Bình Định 12, có Á nguyên; Quảng Ngãi 5, có Giải nguyên; Phú Yên 1. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Phạm Văn Chất, đỗ thứ 1, người thôn Thi Phổ, huyện Mộ Đức. ( hiện đang thờ tại nhà ông Phạm Văn Hùng (Năm He).
– Võ Dương, đỗ thứ 5, người thôn An Thổ, huyện Mộ Đức.
– Phạm Văn Nga, đỗ thứ 7, người thôn Thi Phổ, huyện Mộ Đức. Có con là Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
– Nguyễn Thừa Lương, đỗ thứ 8, người thôn Vạn Tượng, huyện Chương Nghĩa.
– Lê Trung Đình, đỗ thứ 17, người thôn Phú Nhơn, huyện Bình Sơn.
13/ Khoa Ất Dậu (1885), Hàm Nghi thứ 1 (咸 宜), lấy đỗ 8: Bình Định 7, chiếm cả Giải nguyên và Á Nguyên; Phú Yên 1. Quảng Ngãi bỏ thi vì biến cố Kinh đô thất thủ.
14/ Khoa Tân Mão (1891), Thành Thái thứ 3 (成 泰), lấy đỗ 17 người: Bình Định 10, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 4, có Á nguyên; Phú Yên 1; Khánh Hoà 1 và Bình Thuận 1. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Đỗ Quân, đỗ thứ 2, người thôn Châu Sa, huyện Bình Sơn. Ông nội là Phó bảng Đỗ Đăng Đệ đậu khoa Nhâm Dần (1842).
– Võ Văn Quang, đỗ thứ 4, người thôn Hòa Vinh, tỉnh Quảng Ngãi.
– Lê Ngãi, đỗ thứ 12, người thôn Bình An, tỉnh Quảng Ngãi .
– Trương Quang Phùng, đỗ thứ 13, người thôn Mỹ Khê Tây, tỉnh Quảng Ngãi.
15/ Khoa Giáp Ngọ (1894), Thành Thái thứ 6, lấy đỗ 19 người: Bình Định 9, có Á nguyên; Quảng Ngãi 5, có Giải nguyên; Phú Yên 1; Khánh Hòa 1; Bình Thuận 1 và các tỉnh khác 2. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Dương Huy, đỗ thứ 1, người thôn Phú Nhơn, huyện Bình Sơn.
– Võ Văn Quý, đỗ thứ 4, người huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
– Bùi Trọng Cung, đỗ thứ 9, người huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
– Trương Quang Kỳ, đỗ thứ 11, người thôn Mỹ Khê, huyện Bình Sơn. Ông nội là Trương Đăng Quế, đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão (1819) trường Trực Lệ. Chú là Trương Đăng Trinh, đỗ Cử nhân khoa Tân Sửu (1841) trường Thừa Thiên.
– Đoàn Thúc Vĩ, đỗ thứ 14, người thôn Nhơn Hòa, huyện Bình Sơn. Cha là Đoàn Khắc Nhượng, chú họ là Đoàn Duy Trinh, cùng đỗ khoa Bính Ngọ (1846) trường Thừa Thiên.
16/ Khoa Đinh Dậu (1897), Thành Thái thứ 9, lấy đỗ 18 người: Bình Định 9;
Quảng Ngãi 6, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Phú Yên 2; Khánh Hòa 1. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Phạm Hào, đỗ thứ 1, người thôn An Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi .
– Đồng Cát Phủ, đỗ thứ 2, người thôn Ba La, huyện Tư Nghĩa.
– Phạm Khuếch, đỗ thứ 13, người thôn Trà Bình, huyện Mộ Đức.
– Nguyễn Đình Quản, đỗ thứ 14, người thôn Phong Niên, tỉnh Quảng Ngãi.
– Nguyễn Mân, đỗ thứ 15, người thôn Kim giao, tỉnh Quảng Ngãi.
– Võ Chức, đỗ thứ 16, người thôn Trung Sơn, huyện Bình Sơn.
17/ Khoa Canh Tý (1900), Thành Thái thứ 12, lấy đỗ 24 người: Bình Định 9; Quảng Ngãi 10, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Phú Yên 1; Khánh Hòa 1; Bình Thuận 3. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Tạ Hàm, đỗ thứ 1, người thôn Chánh Lộ, huyện Chương Nghĩa. Cha là Tiến sĩ Tạ Tương đỗ khoa Nhâm Thìn (1892).
– Trương Quang Quý, đỗ thứ 2, người thôn Phú Nhơn, huyện Bình Sơn.
– Trần Quý Phụng, đỗ thứ 3, người thôn Bồ Đề, huyện Mộ Đức.
– Võ Thiếu Trinh, đỗ thứ 5, người thôn Ba La, huyện Chương Nghĩa. Cha là Cử nhân Võ Văn Tịnh đỗ khoa Ất Mão (1855); anh là Cử nhân Võ Trọng Liên đỗ khoa Kỷ Mão (1879).
– Nguyễn Phan, đỗ thứ 8, người thôn Kim Giao, huyện Đức Phổ. Cha là Cử nhân Nguyễn Đăng Ngoạn đỗ khoa Canh Ngọ (1870).
– Nguyễn Phàn, đỗ thứ 10, người thôn Yên Ninh, huyện Đức Phổ.
– Mai Phong, đỗ thứ 11, người thôn Thanh An, huyện Mộ Đức.
– Tô Thành, đỗ thứ 19, người thôn Thái Lăng, huyện Mộ Đức.
– Lê Trung Khoản, đỗ thứ 21, người thôn Tham Hội, huyện Bình Sơn.
– Lê Chi, đỗ thứ 24, người thôn Xuân Tây, huyện Đức Phổ.
18/ Khoa Quý Mão (1903), Thành Thái thứ 15, lấy đỗ 18 người: Bình Định 8, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 5; Phú Yên 1; Bình Thuân 1; các nơi khác 3, người Hà Nội đoạt Á nguyên. Kể từ khoa này có thêm thí sinh tỉnh Phan Rang (tức Ninh Thuận). Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Lê Đình Cẩn, đỗ thứ 3, người thôn Hòa Vinh, huyện Chương Nghĩa.
– Lê Trung Kinh, đỗ thứ 5, người thôn Phú Nhơn, huyện Bình Sơn. Cha là Cử nhân Lê Trung Lượng đỗ khoa Nhâm Tý (1852); anh là Cử nhân Lê Trung Đình đỗ khoa Giáp Thân (1884).
– Nguyễn Sủy, đỗ thứ 9, người thôn Hổ Khiếu, huyện Chương Nghĩa.
– Nguyễn Trung Khác, đỗ thứ 14, người thôn Đông An, huyện Bình Sơn.
– Lâm Văn Bính, đỗ thứ 18, người thôn Đông Nhị, huyện Bình Sơn.
19/ Khoa Bính Ngọ (1906), Thành Thái thứ 18, lấy đỗ 24 người: Bình Định 12, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á Nguyên; Quảng Ngãi 3; Phú Yên 3; Khánh Hòa 2; Bình Thuận 1; các nơi khác 3. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Trần Nguyên Thiệp, đỗ thứ 9, người thôn Tú Sơn, huyện Mộ Đức.
– Nguyễn Thuyên, đỗ thứ 20, người thôn Nam An, huyện Bình Sơn.
– Huỳnh Ngọc Trác, đỗ thứ 24, người thôn Thạch An, huyện Sơn Tịnh.
20/ Khoa Kỷ Dậu (1909), Duy Tân thứ 3 (維 新), lấy đỗ 16 người: Bình Định 7, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Quảng Ngãi 2; Phú Yên 1; Ninh Thuận 2 (tỉnh mới lập, từ năm 1901 đến 1913); Bình Thuận 1; các nơi khác 3. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Trần Thường, đỗ thứ 4, người thôn An Thạch, huyện Đức Phổ.
– Trần Mậu, đỗ thứ 13, người thôn Thạch Than, huyện Mộ Đức.
21/ Khoa Nhâm Tý (1912), Duy Tân thứ 6, lấy đỗ 18 người: Bình Định 8, có Á nguyên; Quảng Ngãi 5, có Giải nguyên; Khánh Hòa 1; Ninh Thuận 1; các nơi khác 3. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Trần Phan, đỗ thứ 1, người thôn Bồ Đề, huyện Mộ Đức.
– Trần Văn Trạch, đỗ thứ 9, người thôn Năng An, huyện Mộ Đức.
– Hồ Kỳ Trân, đỗ thứ 10, người thôn Thu Phố, huyện Chương Nghĩa.
– Nguyễn Xuân Quang, đỗ thứ 13, người thôn Tân An, huyện Mộ Đức.
– Bùi Chước, đỗ thứ 15, người thôn Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh.
22/ Khoa Ất Mão (1915), Duy Tân thứ 9, lấy đỗ 18 người: Bình Định 10, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 1; Phú Yên 3, có Á Nguyên; các tỉnh khác 4. Tỉnh Ninh Thuận giải thể [4], thí sinh lại nhập vào hai tỉnh Khánh Hòa và Bình Thuận. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Lê Thế, đỗ thứ 14, người thôn Long Phụng, huyện Mộ Đức.
23/ Khoa Mậu Ngọ (1918), Khải Định thứ 3 (啟 定), lấy đỗ 12 người: Bình Định 2; Quảng Ngãi 4, có Giải nguyên; Phú Yên 2; các nơi khác 4, người Quảng Nam đoạt Á nguyên. Sĩ tử Quảng Ngãi đỗ Cử Nhân khoa này gồm:
– Phạm Trinh, đỗ thứ 1, người thôn Chánh Lộ, huyện Chương Nghĩa.
– Bùi Phụ Nghiệp, đỗ thứ 7, người thôn Thu Phố, huyện Chương Nghĩa.
– Nguyễn Tạo, đỗ thứ 9, người thôn Xuân Phổ, huyện Chương Nghĩa.
– Lê Văn Duy, đỗ thứ 10, người thôn Bồ Đề, huyện Mộ Đức.
Trên danh nghĩa, Trường thi Bình Định đã đóng góp cho nền Nho học 23 khoa thi Hương, nhưng trên thực tế chỉ có 22 lần thi tại Trường Bình Định. Vì lần thi cuối cùng, khoa Mậu Ngọ (1918), sĩ từ miền này phải vác liều chõng ra Huế ứng thí tại Trường Thừa Thiên. Nhưng danh sách thí sinh, hạn ngạch lấy đỗ và bảng trúng tuyển đều lập riêng, không dính dự gì đến sĩ tử Trường Thừa Thiên.
Số chỉ định trúng tuyển Cử nhân ở Trường thi Bình Định, mỗi khóa 13 người.
Quy định ấy, giữ đúng được 3 khóa đầu, kể từ lần thứ 4, tức khoa Đinh Mão (1867), không còn tuân thủ nữa.
Tổng kết, dưới thời nhà Nguyễn, trên toàn cõi Việt Nam có 48 lần mở khoa thi Hương (1807 – 1918). Riêng Trường thi Bình Định tham dự 23 khoa (1852 – 1918), cung cấp cho đất nước 355 Cử nhân Hán học. Trong đó, Bình Định 186 người, có 12 Giải nguyên và 10 Á nguyên. Quảng Ngãi 104 người, có 11 Giải nguyên và 9 Á nguyên. Phú Yên 22 người, có 1 Á nguyên. Khánh Hòa 7 người. Ninh Thuận 3 người. Bình Thuận 11 người, có 1 Á nguyên. Và sĩ tử các vùng khác tạm trú tại vùng này đỗ 22 người, có 2 Á nguyên. Đó là trường hợp con của các quan theo cha đến lỵ sở, công chức đang làm việc.
Người Quảng Ngãi đầu tiên xuất thân từ Trường thi Bình Định là Cử nhân Phan Văn Điển đỗ thứ 2/13, khoa Nhâm Tý (1852). Và người Quảng Ngãi dẫn đầu ở khoa cuối cùng của Trường thi Bình Định là Cử nhân Phạm Trinh đỗ thứ 1/12, khoa Mậu Ngọ (1918).
Với sĩ tử Quảng Ngãi cũng có những khoa thi đáng ghi nhớ: Khoa Canh Tý (1900), Trường Bình Định lấy đỗ 24 Cử nhân, Quảng Ngãi chiếm 10 người, nhiều nhất.
Nhưng đến khoa Ất Mão (1915), Trường Bình Định lấy đỗ 18 cử nhân, Quảng Ngãi chỉ có 1 người trúng tuyển; và khoa Ất Dậu (1885) sĩ tử Quảng Ngãi bỏ thi khi nghe tin Kinh đô thất thủ. Thành tích đáng kể hơn hết là bốn khoa: Mậu Thìn (1868), Canh Ngọ (1870), Đinh Dậu (1897) và Canh Tý (1900) Quảng Ngãi đạt vẻ vang nhất, chiếm cả Giải nguyên và Á nguyên.
Trở lại với Trường thi Bình Định, những người đỗ Cử nhân trẻ nhất là các ông:
Văn Vĩ người thôn Hữu Pháp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, đỗ hạng 12/12 khoa Mậu Ngọ (1918), lúc 16 tuổi. Rồi đến Trần Quý Hàm người thôn Tri Thiện, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đậu Á nguyên (2/24) năm Bính Ngọ (1906), lúc 18 tuổi. Và Nguyễn Thuyên người thôn Nam An, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ thứ 20/24 khoa Bính Ngọ (1906), lúc 20 tuổi.
Những người lớn tuổi nhất còn vác liều chõng đi thi và đỗ Cử nhân ở Trường thi Bình Định là các ông: Phan Hành người thôn Biểu Chánh, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đỗ hạng 8/18 ở khoa Quý Mão (1903), lúc 55 tuổi. Võ Văn Quý người huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ hạng 4/19 ở khoa Giáp Ngọ (1894), lúc 53 tuổi. Và Đinh Hữu Quang người thôn Hưng Lạc, huyện Phù My, tỉnh Bình Định, đỗ hạng 13/19 cũng khoa Giáp Ngọ, lúc 52 tuổi.
Trường thi Bình Định có những khoa thi mà danh sách thí sinh trúng tuyển khi bộ duyệt lại, phải thay đổi ở giờ chót: hoặc bị truất bớt, hoặc được thêm vào. Xem ra việc chọn người trúng tuyển ngày xưa rất cẩn trọng, phải qua hai lần duyệt xét, ở trường thi và ở trung ương, mới được chính thức đỗ.
– Bộ truất vì có bài bị điểm liệt: Khoa thi Mậu Thìn (1868), Trường thi Bình Định do Bố chánh Quảng Yên là Lê Hữu Tá làm Chủ khảo, Toản tu Sử quán Phạm Quý Đức làm Phó Chủ khảo, đã lấy 18 người vào bảng Cử nhân. Bộ duyệt lại thấy Nguyễn Lương, Phạm Khởi và Lê Văn Cơ có bài bị điểm liệt, nên chỉ cho đậu Tú tài. Bảng Cử nhân chỉ có 15 người chính thức đậu.
– Bộ truất vì không có bài được điểm bình trở lên: Khoa thi năm Bính Tý (1876) ban Giám khảo trường Bình Định lập danh sách trúng tuyển là 15 người. Bộ duyệt lại, truất ba người cuối bảng Cử nhân là Nguyễn Bá Đệ, Trịnh Hữu Bằng và Trần Quang Khởi, chỉ cho đỗ Tú tài, vì thấy trong quyển thi không có điểm ưu hoặc bình.
– Bộ đánh hỏng vì bài trùng nhau: Việc xét duyệt ở bộ, không chỉ thông qua các số điểm ban Giám khảo đã cho, mà còn xét rất kỹ từng bài thi. Chẳng hạn, khoa Kỷ Dậu (1909), Trường Bình Định do Tham tri bộ Học Đặng Như Vọng làm Chủ khảo và Tế tửu Quốc Tử giám Trần Tấn Ích làm Phó Chủ khảo, lấy đỗ 18 người. Bộ duyệt thấy bài kỳ nhất (môn văn sách) của Lê Toại (đậu thứ 15) và Đoàn Văn Mân (đỗ thứ 17) có ba bài trùng nhau và ba bài nhiều đoạn giống nhau nên đánh rớt cả hai.
– Bộ truất vì bài thi có dấu lạ: Khoa thi Nhâm Tý (1912), Tham tri bộ Lại Trần Trạm và Đốc học trường Hậu bổ Nguyễn Duy Tích được cử làm Chánh, Phó Chủ khảo Trường Bình Định, đã xếp Trần Tuân vào bảng Cử nhân và Vũ Liêm Sơn vào bảng Tú tài. Bộ duyệt lại, thấy quyển thi kỳ nhất của Trần Tuân, trong bài văn sách thứ tư ở trên chữ “đệ” có một dấu mực. Theo luật trường thi, phạm phải lỗi thiệp tích, tức là lỗi làm dấu bài để thông đồng với giám khảo. Dù là vết mực vô tình cũng quy tội, nên bộ giáng Trần Tuân xuống bảng Tú tài. Nhưng không phải lúc nào bộ cũng tìm cách bắt lỗi thí sinh mà ban Giám khảo không thấy hoặc đã bỏ qua. Bộ còn duyệt xét vớt, hoặc ân giảm vài trường hợp:
– Bộ vớt vì có một bài điểm cao. Đó là trường hợp của Vũ Liêm Sơn ở khoa Nhâm Tý (1912), điểm hạn ngạch chỉ được đậu Tú tài, nhưng kỳ thi chữ Pháp có điểm trội hơn những người Tú tài khác, nên bộ vớt lên cho đậu cuối bảng Cử nhân.
– Bộ còn gia ân cho trường hợp của Phạm Thiếu Am, huyện An Phước, tỉnh Ninh Thuận, thi khoa Kỷ Dậu (1909). Bài làm kỳ thứ 3 và kỳ phúc hạch (kỳ 4), chữ viết không giống nhau, nghi là có kẻ làm dùm bài. Nhưng được biết đương sự vừa thi xong thì ngã bệnh, sau khi nghe tin đỗ thứ 16 thì bệnh trở nặng và đã chết, nên bộ gia ân miễn xét, vẫn để cuối bảng Cử nhân y như ban Giám khảo đã xếp hạng.
Nguồn: Quảng Ngãi Nghĩa Thục - Sử gia Đào Đức Chương