I. SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC HỌ PHẠM
Theo những tư liệu ít ỏi có được cho đến ngày nay thì người Việt chúng ta, phát tích từ lưu vực sông Dương Tử bên Tàu cách đây ngót bốn, năm ngàn năm (Thái Bình Hoàn Vũ ký và Sách Aurousseau).
Về sau vì bị người Hán bành trướng nên họ phải chạy dần về phương Nam, đến mỗi nơi định cư thành một nhóm. Có khoảng 100 nhóm như thế gọi chung là Bách Việt (tương ứng với truyền thuyết Âu Cơ sinh 100 trứng, nở thành 100 con), Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt... ở trên một vùng rộng lớn bao gồm các tỉnh : Triết Giang, Quảng Đông, Quảng Tây, Giao Châu (đồng bằng Bắc Bộ) và Hoan Châu (Bắc Trung Bộ).
Sử chép thời Hán – Sở tranh hùng có một nhân vật họ Phạm cực kỳ thông minh từng làm quân sư cho Hạng Vũ tên là Phạm Tăng.
Nhưng theo sử liệu gần đây của UNESCO (Cơ quan văn hóa LHQ) về thông tin các dòng họ Việt Nam; theo lịch sử văn học thủ đô (Thăng Long – Hà Nội) và sử liệu các triều đại Việt Nam còn lưu trữ thì vào khoảng năm 258 trước công nguyên cuối đời Hùng Duệ Vương, Đại Lang Phạm Duy Hinh cùng Lý, Thành trấn thủ hai châu: Ái Châu (Bình Trị Thiên ngày nay) và Trung Châu gọi là xứ Lâm Ấp (Trung bộ ngày nay). Hiện nay ở núi An Điểm, xã Bình Chương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi còn có đền thờ Đại lang Phạm Duy Hinh. Họ Phạm vào trấn nhậm đàng trong thuộc thứ phái Phạm Duy Khiêm nhưng tư liệu thất lạc, duy chỉ còn vị tổ họ Phạm gần nhất được tôn tộc công nhận và thờ phụng là ngài Phạm Tu, sinh năm 476, chết năm 545 là đệ nhất công thần giúp vua Lý Nam Đế đánh tan quân Tàu, lập nền tự chủ cho nước nhà, khai sinh ra Nhà nước Vạn Xuân. Ngài được phong “LÝ TRIỀU TẢ TƯỚNG, CẢM ỨNG CƯ SĨ LONG BIÊN HẦU” và lập đền thờ ngài ở làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Kế tục truyền thống yêu nước, dũng cảm và tài trí của Ngài có con là Phạm Tỉnh làm Tướng quốc cho Hậu Lý Nam Đế, cháu nội Ngài là Phạm Hiển làm nghĩa sĩ kháng Tùy.
Cháu 7 đời của Phạm Ngũ Lão là Phạm Nhữ Tăng giúp vua Lê Thánh Tông bình định Chămpa, năm 1471 được phong: “BÌNH CHIÊM HƯNG QUỐC QUẢNG DƯƠNG HẦU”, ông sinh năm 1422 và chết năm 1478....
Song song với hàng võ tướng, văn nhân họ Phạm cũng khá thành đạt: Phạm Hùng (1448) trợ giáo Quốc tử giám, Phạm Tiến (1496) Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ, Phạm Chân (1523), Đông cát Đại Học sĩ, Phạm Thận Duật quốc tử giám tham gia khởi động phong trào Cần Vương chống Pháp, Phạm Như, Phạm Văn Đồng, Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Phạm Huy Thông... Viện sĩ Hàn Lâm Viện, hàng ngàn giáo sư, phó giáo sư, hàng vạn cử nhân, tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ... nhiều người đậu giải nguyên.
Như vậy, dòng dõi họ Phạm từ Bắc vào lập nghiệp nhiều nơi ở đàng trong, trong đó có Quảng Nam, Quảng Ngãi, từ đây, đã cùng các họ tộc khác đóng góp không ít vào công cuộc dựng nước và giữ nước, chống ngoại xâm, xây dựng bờ cõi giang san nước Việt ngày càng thêm phồn thịnh, tên tuổi được lưu truyền sử sách cho các thế hệ mai sau để con cháu noi theo.
II. DÒNG DÕI HỌ PHẠM THI PHỔ – ĐỨC THẠNH – MỘ ĐỨC – QUẢNG NGÃI
Vào khoảng năm 1369, Phạm Nhữ Dực (1319-1409) con thứ 5 của Phạm Ngũ Lão (1255) và người thiếp họ Nhữ cùng tướng lĩnh từ Bắc tiến vào Lôi Dương phủ Thuận Thiên nay là Thọ Xuân, Thanh Hóa vừa bình Chiêm (đánh Chiêm Thành) và khai phá đất phương Nam mở mang bờ cõi từ Thanh Hóa đến Thăng Hoa (Quảng Nam ngày nay) vào Cổ Lũy (thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) được phong “BÌNH CHIÊM THƯỢNG TƯỚNG DỰC NGHĨA HẦU” dưới đời Trần. Cùng với việc di dân vào Thuận Hóa của nhà Hồ năm 1400 đến 1407 và cuộc lập nghiệp đàng Trong của chúa Nguyễn (Trịnh – Nguyễn phân tranh: 1533 – 1788), Phạm Nhữ Tăng (1422 – 1478) cháu Phạm Nhữ Dực phò tá đắc lực cho Lê Thánh Tông bình định Chămpa năm 1471, được phong “Bình Chiêm Hưng Quốc Quảng Dương Hầu”, Phạm Chân (1461) đỗ tiến sĩ lúc 27 tuổi là Đông Cát Đại học sĩ, Phạm Công Hiểu (1573 – 1609) đậu cử nhân được cử làm Cai chỉ huy khai phá đồn điền (binh điền) khai hoang lập ấp tại Thi Phổ (1609) nhằm ngày 18 tháng 3 Âm lịch sau tết Nguyên Đán (Thi Phổ nhứt, nhì nay là Đức Tân, Đức Thạnh). Vùng này xưa kia hoang vu, đầm lầy, không cày cấy được bởi con sông Trà Ninh (nay là sông Thoa) chảy qua. Phạm Công Hiểu lãnh đạo binh lính dưới quyền khai phá được 3.180 mẫu ruộng đất. Trừ một số vườn làm nhà ở, còn lại là công điền (chung của toàn dân) và chia cho đầu người nam giới, hằng năm phải nạp thuế cho chúa Nguyễn Hoàng nuôi quân, chỉ trích một phần để khai mương, đắp đập, lập chợ, đền, chùa. Chợ Thi Phổ được lập đầu tiên rồi đến chợ Đồng Cát, lập đình lương xã mép sông Thoa, chùa ông Thống án ngữ phía Tây Phước Thịnh, để 5 mẫu trồng rừng và lập miếu Gò Da, lập Nghĩa Lũng ở phía Bắc thờ những người từ Bắc vào chết, trồng dày rừng ở phía Đông để chắn gió biển tràn vào gọi là Rừng Nà giữ nước cho nông dân cày cấy.
Vùng ruộng phì nhiêu Thi Phổ được phân chia từng đạt, từ đạt 1 đến đạt 12, mỗi đạt 20 mẫu có bờ ngăn và đặt tên các xứ Đồng như: Đồng Găng, Đồng Ấn, Điền Trang, Thượng Lang, Bầu Xuân, Bầu Tròn, Bầu Nham, Bầu Súng, Gò Chòi, Cây Ấn, Cây Trâm, Cam Tình, ... Ngoài ra còn phân chia địa giới như Phước Khánh Đông, Phước Khánh Tây, Phước Hội, Phước Thịnh để quản lý.
Do công lao khai phá đất hoang, quy dân, lập ấp, khai mương, đắp đập biến vùng hoang vu đầm lầy thành ruộng lúa phì nhiêu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... nên được triều đình phong sắc “Quận Công Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Nhị Tướng Chi Thần”. Tiếp đến đời Tự Đức, trong dòng họ Phạm có Phạm Văn Chất và Phạm Văn Nga thi hương năm 1884 đều đỗ. Riêng ông Phạm Văn Chất đỗ thủ khoa được bổ đi làm Tuần Vũ, ông không đi, vì thấy quan lại nhũng nhiễu, ức hiếp dân nên ông tự nguyện đi làm Đốc học lo việc nâng cao dân trí cho đời. Năm 1931 ông chết được triều đình Huế đi viếng câu đối: “GIÁP BẢNG VĂN CHƯƠNG KHÔI THẠNH TIẾN – LOẠN THÀNH CẨM DỊCH NGẪU LIÊN ÂM” (Thế hệ nào cũng có người học giỏi đỗ cao, khi có giặc dùng cây bút tập hợp dân chúng đánh giặc giữ làng). Đặc biệt là ông Phạm Văn Nào em kế ông Phạm Văn Chất khôi ngô, tuấn tú, giỏi võ, tính tình thẳng thắn, thương yêu giúp đỡ dân lành, từng làm quản binh giữ đảo Trường Sa 4 năm liền, khi về đứng tiên chỉ của làng, được cấp một mẫu ruộng công điền, được mời dự các cuộc họp quan trọng của làng.
Vì chịu ảnh hưởng tư tưởng của anh là Phạm Văn Chất và phong trào Đông Du Nghĩa Thục, ông ghét cảnh Chánh tổng, Lý trưởng ức hiếp dân nghèo, nhất là các đợt thu thuế đinh, thuế điền...
Một hôm cụ được mời lên họp ở Đình Lưỡng xã, thấy mấy nông dân bị trói ở sân đình, cụ hỏi: Ai trói dân vì tội gì? Lý Trưởng Trần Gián xun xoe “Thưa cụ, họ có tội không nộp thuế cho làng”. Cụ bảo: “Họ nghèo không có cơm ăn, áo mặc lấy đâu tiền nộp thuế”. Không tranh luận với cụ được, bèn gán cho cụ tội đã vào Đông Du Nghĩa Thục, hô hào dân biểu tình chống sưu, thuế, chống triều đình. Cụ đáp lại: “Tôi cùng các thân sĩ hưởng ứng lời hiệu triệu của vua Hàm Nghi : Đòi đất nước của người Nam phải trả cho người Nam”. Nói xong cụ ra mở trói cho các nông dân ra về, bọn hương lý tức lắm nhưng không dám làm gì (bởi cụ là tiên chỉ và có võ – 1928).
Trước đây, vào năm 1885, cụ cùng cụ Lê Trung Đình tổ chức và lãnh đạo cuộc biểu tình ngồi ở Quảng Ngãi và cuộc mít-ting ở thôn Trà Niên (Đức Phong ngày nay) thuộc huyện Mộ Đức chống sưu cao thuế nặng. Bọn mật thám theo dõi một thời gian và sau đó báo cho Pháp đem lính Lê Dương, lính Dõng về bao vây nhà cụ do Lý trưởng Trần Gián dẫn đường. Cụ chống cự với chúng, đánh gục ba tên lính nên chúng bắn cụ tại sân nhà, cụ hy sinh ngày 17 tháng Giêng năm Canh Ngọ tức (1930), bọn lính Lê Dương còn xông vào nhà lục soát, cướp một số tài sản và bắt một số người rồi rút lui. Hôm sau con cháu và dân làng, hàng ngũ chỉnh tề kéo nhau vào phủ lỵ Mộ Đức đấu tranh lên án lũ giết người, cướp của gây tiếng vang cho phong trào đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng của nhân dân năm 1930.
Về mối quan hệ giữa ông Phạm Công Hiểu, Phạm Công Mông, Phạm Công Trà với ông Phạm Văn Bổn như thế nào có những tài liệu khác nhau cần tiếp tục tìm hiểu chính xác để bổ sung.
Theo phụng sao tôn đồ họ Phạm Thi Phổ (Đức Thạnh) thì ông Phạm Văn Bổn và bà Bùi Thị Thi sinh hạ 3 trai, 2 gái là ông Hai (chết sớm), ông Cụ, ông Bảy (chết sớm) với các bà Ô, bà Hoạc (chưa biết năm sinh, chết). Ông Cụ: Phạm Văn Siêu (tự Quẩn) do có con là Phạm Văn Chất làm quan nên được truy phong thi giảng, còn bà Cụ “Ngũ Phẩm Nghi Nhơn Lệ Thị”. Ông Cụ sinh hạ 4 trai, 5 gái là: Ông Tham, ông Đốc (Chất), ông Nào, ông Chánh và các bà: Hai, Sáu, Huấn, Sản, Chính.